Quản trị tài chính (Financial management) P.2-The End.

Tổ chức tài chính trung gian (Financial Intermediary) là tổ chức liên kết người cho vay với người vay vốn thông qua hình thức huy động tiền gửi (deposit) và cho vay lại (relending). Cũng có thể là tổ chức trung gian giữa các tổ chức tín dụng. Vd:

  • Ngân hàng thương mại.
  • Quỹ đầu tư.
  • Công ty bảo hiểm.

Các ngân hàng thương mại (commercial Bankers)

  • Nhóm quan trọng nhất trong các tổ chức tài chính trung gian là ngân hàng thương mại.
  • Gồm ngân hàng cung cấp dịch vụ chủ yếu cho cá nhân (retail banks) và ngân hàng cung cấp dịch vụ chủ yếu cho các tổ chức lớn (wholesale banks).
  • Chức năng của ngân hàng thương mại bao gồm:
    • Cung cấp dịch vụ thanh toán
    • Nhận tiền gửi và cho vay
    • Các dịch vụ về tiền êệ, ngoại hối

Vay tiền ngân hàng

  • Đây là nguồn tài chính quan trọng bậc nhất của doanh nghiệp.
  • Thường khối lượng cho vay ngắn hạn cao hơn cho vay trung hạn hay dài hạn.
    • Vay ngắn hạn là khoản vay dưới 1 năm.
    • Vay trung hạn và dài hạn là khoản vay trên 1 năm.

Thị trường tiền tệ & Thị trường vốn (money markets & Capital markets)

  • Thị trường vốn là thị trường giao dịch các khoản vốn dài hạn.
  • Thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch các công cụ tài chính ngắn hạn, vày và cho vay vốn ngắn hạn.
  • Vốn ngắn hạn là vốn vay hay cho vay trong khoảng thời gian khoảng 1 năm.
  • Vốn dài hạn là vốn đầu tư hay vay và cho vay trong khoảng thời gian 5 năm hay dài hơn.
  • Khoảng giữa là vốn trung hạn.

Thị trường tiền tệ

  • Được điều hành bởi ngân hàng hay các tổ chức tài chính.
  • Thị trường tiền tệ sơ cấp (primary money market) được coi là thị trường chính thức, các thị trường còn lại được gọi là thị trường song song (parallel).
  • Thị trường sơ cấp – các ngân hàng và tổ chức được Ngân hàng Trung ương chấp thuận cho hoạt động.
  • Thị trường liên ngân hàng – các ngân hàng cho vay ngắn hạn lẫn nhau.
  • Thị trường liên công ty – cho vay trực tiếp giữa các công ty lớn.
  • Thị trường hối đoái.

Thị trường vốn

  • Là thị trường giao dịch công cụ tài chính dài hạn, thị trường vốn chủ yếu giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán (stock exchange) và các ngân hàng.
  • Sở giao dịch chứng khoán cũng giao dịch trái phiếu chính phủ.
  • Các công ty huy động vốn dài hạn hay trung hạn thông qua cách thức sau:
    • Phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
    • Vay từ ngân hàng có hay không có thế chấp.
  • Sở giao dich chứng khoán hoạt động theo hai mục đích chính:
    • Thứ nhất, như thị trường sơ cấp: các công ty có thể huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu mới. Các công ty phát hành chứng khoán trên thị trường này thông thường phải có đủ các điều kiện để được giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán. Quy định có thể khác nhau ở mỗi thị trường và phụ thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia.
    • Thứ hai, như thị trường thứ cấp: cho phép các nhà đầu tư bán các khoản đầu tư của mình. Khả năng mua bán trên thị trường của các loại cổ phiếu là một tính chất quan trọng của thị trường vốn. Nhà đầu tư sẽ đầu tư (mua/bán) chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) nếu họ biết rằng việc giao dịch sẽ dễ dàng.

Tổ chức đầu tư (Institutional Investors)

  • Là những tổ chức với vốn rất lớn và sẽ dùng vốn này đầu tư vào cổ phần, cổ phiếu hay tài sản khác của các doanh nghiệp hay trực tiếp cho doanh nghiệp vay.
  • Những tổ chức đầu tư chủ yếu là: quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí. Tại các nước phát triển quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm là các tổ chức đầu tư lớn nhất.

Lãi suất (interest) và mẫu hình lãi suất (pattern of interest rates)

  • Lãi xuất giá điều chỉnh cho vay và vay. Người đi vay phải trả cho người cho vay một tỉ lệ phần trăm cụ thể trên tổng số tiền vay, nưh chi phí dùng khoản vay.
  • Lãi xuất sẽ bị ảnh hưởng của quy luật cung cầu.
  • Mẫu hình lãi suất: mô tả về sự biến động của lãi suất trên các loại tài sản tài chính khác nhau (financial assets), và mức lãi gộp giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay do ngân hàng thiết lập.

Mẫu hình lãi suất (pattern of interest rates)

  • Biến động của lãi suất trên các loại tài sản tài chính khá nhau phụ thuộc vào các yếu tố sau:
    • Rủi ro (risk): hoạt đông của người đi vay rủi ro cao, họ phải trả giá vay cao.
    • Yêu cầu tạo ra lợi nhuận khi cho vay lại (re-lending): nhà tài chính trung gian phải có khoản lợi nhuận khi cho vay lại với giá cho vay phải cao hơn giá phả trả tiền trên khoản vốn mà họ vay từ người gửi tiền.
    • Thời hạn cho vay.
    • Quy mô của khoản vốn cho vay.
    • Tài sản tài chính khác nhau: tài sản tài chính khác nhau sẽ thu hút các nhà đầu tư khác nhau.
  • Lãi suất trên các khoản vay của chính phủ thường làm cơ sở để tính toán lãi suất cho vay trên các tài sản chính khác.

Lãi suất theo thời hạn cho vay (Them term structure of interest rates)

  • Lãi suất sẽ biến động theo thời hạn cho vay.
  • Thông thường thời hạn cho vay dài lãi suất sẽ cao vì rủi ro khi cho vay dài hạn sẽ cao hơn rủi ro khi vay ngắn hạng.
  • Có những trường hợp biến động sẽ ngược lại do các nguyên nhân:
    • Nếu lãi suất cho vay dự kiến giảm trong tương lai, cho vay ngắn hạn sẽ chịu lãi suất cao hơn.
    • Do chính sách lãi suất của chính phủ: nếu chính phủ có chính sách lãi suất cao. Chính sách này sẽ gây áp lực về lãi suất cao đối với cho vay ngắn hạn.

Mức lãi suất (The general level of interest rates), lãi suất trên một loại tài sản cho vay sẽ biến động vì:

  • Nhà đầu tư có thể đòi hỏi thu nhập đem lại khác nhau trên  khoản đầu tư tùy theo mức độ rủi ro của khoản đầu tư.
  • Lạm phát
  • Lãi suất danh nghĩa phải đủ cao để bù đắp tỉ lệ lạm phát.
  • Không chắc về tỉ lệ lạm phát: nếu không chắc chắn về tỉ lệ lạm phát trong tương lai, nhà đầu tư có thể đòi hỏi một lãi suất cao để dự phòng biến động lạm phát.
  • Nhu cầu vay vốn: nhu cầu vốn vay cao, lãi suất huy động cao.
  • Lãi suất huy động tại nước ngoài: khi lãi suất huy động ở nước ngoài cao, lãi suất huy động trên đồng nội tệ phải cao, nhằm tránh tình trạng vốn bị chuyển ra nước ngoài và đồng nội tệ mất giá.

Tỉ suất thu nhập (rate of return)

  • Nhà đầu tư có cơ hội hoặc gửi tiền vào ngân hàng hưởng một tỉ lệ phần trăm thu nhập và sau đó ngân hàng cho doanh nghiệp vay lại;
  • Hoặc là nhà đầu tư sẽ đầu tư tiền trực tiếp vào doanh nghiệp (rủi ro cao, nhưng thu nhập có thể cao hơn).
  • Hoạt động đầu tư rủi ro cao, tỉ suất thu nhập mong đợi sẽ cao.
  • Mua trái phiếu chính phủ rủi ro thấp, tỉ suất thu nhập thấp.
  • Đầu tư vào cổ phiếu của công ty, rủi ro cao hơn nên tỉ suất thu nhập sẽ cao hơn.
Nguồn: chuoigiatri.net
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s