Hệ thống tiền tệ và ngân hàng III-Money and banking III

 

Tiếp tục ví dụ về hòn đảo với 100 công dân từ bài trước. Giả sử trong một năm nào đó sản lượng bánh mì và bơ vẫn là 100kg/một người (99 người làm bánh mì, 1 người làm bơ). Tuy nhiên thay vì đem 99 kg bơ ra để đổi lấy 99kg bánh mì với tỷ lệ 1/1, người làm bơ phát hiện ra rằng con bò của mình vừa bị bệnh và năm sau chắc chắn sẽ không sản xuất bơ được. Do vậy anh ta quyết định giữ lại 50kg bơ cho sang năm (giả sử bơ có thể dự trữ được lâu dài mà không bị hỏng). Ngay khi anh ta đưa ra quyết định “tiết kiệm” 50 kg bơ, nền kinh tế nhỏ của chúng ta đã chuyển từ một bài toán tĩnh sang một bài toán động.

Sự khác nhau của một bài toán tĩnh (static) và một bài toán động (dynamic) là ở chỗ quyết định của một chủ thể (agent) tại một thời điểm (hiện tại và tương lai) sẽ có ảnh hưởng hay không đến kết quả (outcome) của toàn bộ nền kinh tế từ thời điểm hiện tại trở đi. Trong bài trước, khi người dân của nền kinh tế quyết định trao đổi bánh mì và bơ cho nhau họ chỉ tính đến lợi ích và chi phí của hành động này cho thời điểm đó. Đây là một điểm rất hạn chế của các mô hình tĩnh mà điển hình là quan điểm lạm phát là do “too much money chasing too few goods”.

Trở lại ví dụ island economy, ngay cả khi chỉ có hàng đổi hàng, lạm phát (theo một cách hiểu nhất định) vẫn có thể xảy ra khi sản lượng của một mặt hàng trong nền kinh tế bị sụt giảm. Đấy là bài toán tĩnh, còn trong bài toán động, dù sản lượng hiện tại không sụt giảm nhưng nếu một đại lý mong đợi(agent expect) sản lượng trong tương lai sẽ sụt giảm (có thể do lý do khách quan như con bò bị ốm, thiên tai, hoặc lý do chủ quan như anh ta dự định sẽ nghỉ đi du lịch) thì mức giá hiện tại cũng có thể tăng ngay lập tức. Đây là điểm mà tôi muốn nhấn mạnh: Sự kỳ vọng (expectation) về tương lai có ảnh hưởng lên mức giá hiện tại dù chỉ xét trong phạm vi một nền kinh tế rất sơ khai như trình bày ở đây.

Điểm thứ hai tôi muốn nhấn mạnh từ ví dụ này là lạm phát có thể bắt nguồn từ lý do khách quan (thiên tai nên sản lượng bị sụt giảm) nhưng đồng thời có thể bắt nguồn từ lý do chủ quan của chính những đại lý (agents) tham gia các hoạt động sản xuất và trao đổi trong nền kinh tế. Do vậy dù các ngân hàng trung ương (central banks) có “tội lỗi” lớn trong việc gây ra lạm phát nhưng không phải “luôn luôn và ở mọi nơi (always and everywhere)” là ngân hàng trung ương (central banks) mà có những lúc do đại lý tư nhân (private agents) cũng góp phần không nhỏ vào quá trình gây ra làm phát (inflation).

Trong ví dụ này người sản xuất bơ tiết kiệm vì anh cho rằng (expect) sản lượng bơ (và do đó thu nhập của anh ta) trong tương lai sụt giảm. Câu hỏi: tại sao bạn (hay con người nói chung) lại có hành vi tiết kiệm?

Theo giangle’s blog (kinhtetaichinh.blogspot.com)

Advertisements

One response

  1. Pingback: Hệ thống tiền tệ và ngân hàng IV- Money and banking IV. | CFO'S VIỆT NAM

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s